NỘI DUNG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN

CHUYÊN ĐỀ

SỬ DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THPT

I. Giới thiệu một số kĩ thuật dạy học

Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực mà những nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhằm dạy học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt mà còn phát triển năng lực. Điều quan trọng là giáo viên linh hoạt tuỳ theo bài học để chọn kĩ thuật phù hợp.

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Ở đây tôi xin trình bày một số kĩ thuật dạy học mà tôi thấy có thể áp dụng được với HS trường mình và tôi đã và đang thực hiện.

1. Kĩ thuật "Mảnh ghép, trạm, phòng tranh"

Thế nào là kĩ thuật "Các mảnh ghép"?

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).

Cách tiến hành kĩ thuật "Các mảnh ghép"

Vòng 1: Nhóm chuyên gia

  • Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người [số nhóm được chia = số chủ đề x n (n = 1,2,…)]
  • Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]
  • Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình
  • Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép

  • Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3…)
  • Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau
  • Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết
  • Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật "Các mảnh ghép"

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.

- Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1,2,…,n (nếu không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, ... . Ví dụ A1, A2, ... An, B1, B2, ..., Bn, C1, C2, ..., Cn).

- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới. Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm.

- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự.

Ví dụ:

Bài 6: Đất nước nhiều đồi núi lớp 12

Áp dụng dạy phần 2.1: Khu vực đồi núi

Bước 1: GV chia HS thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm (phiếu học tập). Hình thành 8 nhóm chuyên gia.

Nhóm 1,2: trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Đông bắc

Nhóm 3,4: trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Tây bắc

Nhóm 5,6: trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Trường sơn Bắc

Nhóm 7,8: trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Trường sơn Nam

Bước 2: HS hoàn thành sản phẩm trong 5 phút theo cấu trúc

  • Phạm vi
  • Độ cao
  • Hướng
  • Cấu trúc
  • Giá trị kinh tế nổi bật

Bước 3: HS dán sản phẩm lên góc lớp theo vị trí GV đã cho trước. HS chia lại nhóm, 4 nhóm tạo thành một cụm, HS ghép nhóm, di chuyển theo trạm. Mỗi trạm HS có 3 phút trình bày, hỏi đáp

Bước 4: Đánh giá

  • HS hoàn thành bảng lớn ngẫu nhiên
  • GV chuẩn bị các thông tin, cắt nhỏ với các nội dung tương ứng.
  • Trong vòng 3 phút, HS hoàn thành thông tin
  • GV chiếu bảng tổng kết so sánh, HS chấm chéo sản phẩm
  • HS tự đánh giá và báo cáo kết quả

Các vùng địa hình

Vị trí, phạm vi

Đặc điểm chính

Vùng núi Đông Bắc

 

 

Vùng núi Tây Bắc

 

 

Vùng núi Bắc Trường Sơn

 

 

Vùng núi Nam Trường Sơn

 

 

 

2. Kĩ thuật "Khăn trải bàn"

Thế nào là kĩ thuật "Khăn trải bàn"?

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cách tiến hành kĩ thuật "Khăn trải bàn"

- Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)

- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa

- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,...)

- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề...). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút

- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời

- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)

Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật "Khăn trải bàn"

- Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi.

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.

- Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy "khăn trải bàn" lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn

- Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu.

Ví dụ: Bài 1 lớp 12: Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập

Tìm hiểu thực trạng và các xu thế đổi mới của đất nước.

Bước 1: GV yêu cầu HS làm việc theo gợi ý:

+ HS suy nghĩ 1 phút về ý 1 nguyên nhân đổi mới

+ HS chia sẻ trong nhóm, thư kí ghi nhận thông tin trong bảng nhóm

+ Dán phần giấy note làm việc cá nhân vào các góc vị trí ngồi tương ứng

  1. Tại sao đất nước ta cần phải đổi mới
  2. Dựa vào SGK, hãy ghi ra 3 xu thế của đổi mới
  3. Lấy ví dụ cho 1 biểu hiện của 1 xu thế

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ, GV hỗ trợ HS

Bước 3: HS trả lời nguyên nhân theo vòng tròn (thực trạng đất nước và xu thế TCH của thế giới). GV ghi ý chính lên bảng theo cấu trúc bài học.

3. Kĩ thuật "Ổ bi"

Thế nào là kĩ thuật "Ổ bi"?

Kĩ thuật "Ổ bi" là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác.

Cách thực hiện

  • Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;
  • Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.

Ví dụ: Bài 1 lớp 12: Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập

Tìm hiểu thành tựu và thách thức của công cuộc đổi mới

+ Thời gian 2 phút

+ Sử dụng thiết bị điện tử/SGK/Bài báo

+ Ghi ra các 3 thành tựu và 3 thách thức tiêu biểu. Số lẻ ghi thành tựu, số chẵn ghi thách thức

+ Hết giờ HS sẽ xếp hàng như hình để chia sẻ trong 1 phút. 2 bên sẽ cùng trao đổi các thông tin về thành tựu và thách thức + diễn giảng

 

Hết 1 phút, HS dịch chuyển sang phải 2 bước và đổi hàng để tạo thành cặp mới

 

HS có khoảng 3 lượt dịch chuyển như vậy để hoàn thành thông tin + bổ sung nhau

Bước 5: HS nêu nhanh các thành tựu và thách thức, GV có thể chiếu một số thông tin bổ sung nhằm nhấn mạnh một số điểm cơ bản.

 

 

4. Kĩ thuật "Tia chớp"

Thế nào là kĩ thuật "Tia chớp"?

Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.

Quy tắc thực hiện

  • Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị.
  • Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
  • Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
  • Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.

Ví dụ: Hãy liệt kê các kĩ năng cần thiết mà học sinh THPT cần phải có.

5. Kĩ thuật "Lược đồ tư duy"

Thế nào là kĩ thuật "Lược đồ tư duy"?

Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.

Cách làm

  • Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
  • Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh.
  • Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
  • Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

Ứng dụng

Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

  • Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
  • Trình bày tổng quan một chủ đề;
  • Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
  • Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
  • Ghi chép khi nghe bài giảng.

 

Ưu điểm

  • Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;
  • Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;
  • Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;
  • Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.

Ví dụ: Bài 5: Một số vấn đề của Châu lục

Bước 1: GV chia lớp thành 8 nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm.

- Nhóm 1 và 2: Tìm hiểu về Châu Phi

- Nhóm 3 và 4: Tìm hiểu về Mĩ La tinh

- Nhóm 5 và 6: Tìm hiểu về Tây Nam Á

- Nhóm 7 và 8: Tìm hiểu về khu vực Trung Á

Bước 2: GV yêu cầu các nhóm dựa vào SGK, sử dụng giấy A3 hoặc A4, hoàn thành nội dung được giao bằng sơ đồ tư duy theo dàn ý:

  • Vị trí địa lí
  • Điều kiện tự nhiên
  • Dân cư và xã hội
  • Kinh tế

Bước 3: Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép để học sinh trình bày và nắm kiến thức.

Bước 4: GV gọi bất kì HS để đánh giá và chốt nội dung.

6. Kĩ thuật "Chia sẻ nhóm đôi" hay “Think, Pair, Share”

Thế nào là kĩ thuật "Chia sẻ nhóm đôi"?

Chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share) là một kỹ thuật do giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề.

Dụng cụ

Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên không cần thiết sử dụng các dụng cụ hỗ trợ.

Thực hiện

  • Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh suy nghĩ.
  • Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại.
  • Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.

Lưu ý

  • Điều quan trọng là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.
  • Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích.

Ưu điểm

Thời gian suy nghĩ cho phép học sinh phát triển câu trả lời, có thời gian suy nghĩ tốt, học sinh sẽ phát triển được những câu trả lời tốt, biết lắng nghe, tóm tắt ý của bạn cùng nhóm.

Hạn chế:

Học sinh dễ dàng trao đổi những nội dung không liên quan đến bài học do giáo viên không thể bao quát hết hoạt động của cả lớp.

Ví dụ: Phần mở rộng Bài 7 lớp 12: Đất nước nhiều đồi núi

Bước 1: GV giao nhiệm vụ:

- Think: HS làm việc cá nhân, đề xuất 1 giải pháp nhằm khai thác thế mạnh/khắc phục khó khăn trong 1 phút. Nêu lí do

- Pair: HS chia sẻ cặp đôi trong nhóm trong 2 phút

- Share: HS thể hiện vai trò lãnh đạo, tầm nhìn trước lớp, lập luận và trình bày trong 1 phút, có căn cứ khoa học, lập luận.

Bước 2: HS phản biện nhanh thể hiện quan điểm

Bước 3: GV chốt ý và khen ngợi HS

7. Kỹ thuật / Phương pháp Đóng vai

Đóng vai là kỹ thuật HS làm thử một một công việc hoặc thực hiện một ứng xử trong tình huống giả định. Kỹ thuật này giúp HS suy nghĩ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em quan sát được hoặc chính mình trải nghiệm. Đóng vai không chỉ bao gồm việc diễn mà quan trọng hơn là cuộc trao đổi sau việc diễn. Kỹ thuật này thường dùng trong những phần học về Kể chuyện, Đạo đức, phần học ứng dụng của các môn học.

Cách thực hiện :

- Bước 1 : GV giao nhiệm vụ cho HS : yêu cầu đóng vai cho nhóm, thời gian cho việc chuẩn bị đóng vai

- Bước 2 : Các nhóm chuẩn bị đóng vai : phần lời của từng vai cần nhớ, phần diễn của từng vai, phối hợp diễn thử các vai( Gv lắng nghe, quan sát, gợi ý bàng câu hỏi)

- Bước 3 : Từng nhóm trình bày đóng vai (diễn)( GV theo dõi,phát hiện cách ứng xử khác)

- Bước 4 : Nhận xét / thảo luận về việc đóng vai theo các tiêu chí về lời và hành động diễn có thể hiện đúng nội dung chính của bài và gây cảm xúc tích cực cho người xem không.( Giúp HS thảo luận về ích lợi hoặc tác hại hay hạn chế của từng cách ứng xử. Sau đó tổng hợp ý kiến)

- Bước 5 : Kết luận được rút ra từ nhiệm vụ đóng vai tập trung vào hiểu, vận dụng kiến thức kỹ năng mới của bài và thực tiễn.

Ví dụ: Bài 8 lớp 12: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển

Phần 2: Ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam

- Bước 1: GV nêu ý tưởng kịch bản: Giả sử Biển Đông là 1 người đàn ông rất giàu có và thành đạt nhưng ôn lại có tính lăng nhăng. Đi đến đâu là có vợ và con rơi đến đó. Một hôm biết ông đến Việt Nam. Các con của ông muốn nhận lại cha mình vì thế nên tìm cách chứng minh cho ông thấy mình là con của ông.

- Bước 2: GV chia lớp thành 4 nhóm và giao nhiêm vụ cho từng nhóm, soạn kịch bản và lời thoại trong vòng 10 phút.

* Nhóm 1: Con cả khí hậu

* Nhóm 2: Con thứ 2 địa hình và hệ sinh thái ven biển

* Nhóm 3: Con thứ 3 tài nguyên thiên nhiên

* Nhóm 4: Con thứ 4 thiên tai vùng biển

Bước 3: Các nhóm lần lượt lên diễn, các nhóm khác quan sát, nhận xét và đánh giá.

Bước 4: GV nhận xét và đánh giá, khen ngợi các nhóm, sau đó gọi bất kì HS trả lời các câu hỏi để đánh giá kiến thức và chốt nội dung.

8. Kỹ thuật trò chơi

Kỹ thuật trò chơi được sử dụng chủ yếu trong phần mở bài, củng cố hoặc các tiết học ôn tập. có rất nhiều trò chơi có thể sử dụng trong quá trình dạy học:

  • Các trò chơi sử dụng trong mở bài hoặc củng cố có thể sử dụng: Trò chơi ô chữ, trò chơi mảnh ghép bí mật, trò chơi hiểu ý đồng đội, trò chơi trí nhớ siêu phàm,…..
  • Các trò chơi sử dụng trong các tiết ôn tập: trò chơi đánh bài, trò chơi Bingo, trò chơi vượt trạm, trò chơi mảnh ghép bí mật,….

Ví dụ:

1. Trò chơi mảnh ghép bí mật. Áp dụng cho bài 36 và 37 lớp 10. Bài 6 và 7 lớp 12. Bài 3 lớp 11,…

2. Trò chơi BINGO: Áp dụng cho bài 9 và 10 lớp 12, Bài 6 và 7 lớp 12,….

3. Trò chơi đánh bài: Áp dụng cho bài 1,2,3 lớp 11. Bài 11 và 12 lớp 12,…

4. Trò chơi vượt trạm: Ôn tập chủ đề 7 vùng kinh tế lớp 12,….